Top 9 lý thuyết về nhân cách được áp dụng phổ biến nhất trên toàn cầu

18-02-2017 9 2091 0 0

Báo lỗi

Nhân cách là một khái niệm với nội hàm rộng, gồm có nhiều mặt cùng tồn tại trong cùng một con người. Nhắc đến nhân cách đó là nhắc đến mặt tâm lý, đời sống tinh thần của một chủ thể nhất định. Từ xa xưa, những thứ liên quan đến nhân cách như “tâm hồn”, “trái tim” đã được nhắc đến rất nhiều và sau này được con người tìm hiểu kỹ lưỡng và giải thích khoa học hơn bằng những lý thuyết mang tính hiện đại, khoa học rất có thể giúp ta có một chiếc nhìn rõ ràng, không trừu tượng hay mô hồ về nhân cách. Toplist sẽ liệt kê một số những ý thuyết nhân cách thông dụng nhất, hữu ích nhất để giúp những bạn có thêm một góc nhìn mới.

123456789

1


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết phân tâm học của Freud

S. Freud là một nhà phân tâm học nổi tiếng người Áo. Hệ thống lý thuyết của ông là lý thuyết chính thống thứ nhất về nhân cách, có tác động sâu rộng tới những học thuyết sau này.

Khi đề cập đến vấn đề nhân cách, ông đưa ra những khái niệm về vô thức, cấu trúc nhân cách và những giai đoạn để hình thành và phát triển nhân cách.
Về vô thức, Freud cho rằng hành vi vô thức không bắt nguồn từ hành vi ý thức đã bị quên lãng, chìm vào quá khứ, và ngủ im trong đời sống tinh thần. Chính hành vi có ý thức có nguồn gốc là hành vi vô thức. Trước khi hành vi trở thành có ý thức thì nó đã trải qua giai đoạn vô thức. Hành vi vô thức là nhân tố chủ yếu quyết định toàn bộ đời sống tâm lý của con người

Về cấu trúc nhân cách, Freud chia ra gồm 3 phần:

  • Cái Nó, tượng trưng cho con người sinh học, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn.
  • Cái Tôi, tượng trưng cho con người hiện thực, hoạt động theo nguyên tắc trong thực tiễn.
  • Cái Siêu tôi, tượng trưng cho con người xã hội, hoạt động theo nguyên tắc đạo đức.

3 khối này có sự liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành cấu trúc nhân cách của một con người.

Về những giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, ông chia thành 5 giai đoạn:

  • Giai đoạn môi miệng (0 – 1 tuổi)
  • Giai đoạn hậu môn (1 – 3 tuổi)
  • Giai đoạn dương vật ( 4 – 5 tuổi)
  • Giai đoạn ẩn tàng (5 – tuổi dậy thì)
  • Giai đoạn dậy thì (từ vị thành niên đến tuổi trưởng thành)

Ông khẳng định nhân cách con người được xây dựng và định hình lúc 5 tuổi, đây là thời kỳ quan trọng nhất quyết định toàn bộ sự phát triển của một đời người. Freud nhấn mạnh vào những giai đoạn thời thơ ấu, nhấn mạnh sự chi phối của yếu tố bản năng, sinh học.

Freud - người đặt nền móng cho phân tâm học
Freud – người đặt nền móng cho phân tâm học


2


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết phân tâm học của Carl Jung

C. Jung là một người sinh ra ở Thụy Sĩ. Ông được coi như người kế thừa những lý thuyết của Freud. Tuy có khai thác, phân tích dựa trên những nền tảng phân tâm học của Freud nhưng lý thuyết mà Jung mở rộng, phát triển lại có những hướng đi khác so với lý thuyết của Freud.
C. Jung có sự giải thích về thực chất của Libido khác, và nêu ra một hệ thống những thành phần cơ bản của nhân cách.

Về thực chất Libido, Freud cho rằng đó là năng lượng tình dục, một loại năng lượng mạnh mẽ nhất, có tác động không nhỏ đến cuộc sống của một con người. Jung cho rằng LIbido là một loại năng lượng cuộc sống rộng và không phân biệt được. Đó là một loại năng lượng huyền bí kích động tinh thần. trải qua sức mạnh tinh thần mà những hoạt động ý thức được triển khai.

Về những thành phần của nhân cách, Jung cho rằng gồm có:

  • Cái Tôi, trung tâm của ý thức, là nhận thức về chính mình và phụ trách triển khai những hoạt động bình thường trong cuộc sống. Ông nêu ra 8 loại nhân cách không giống nhau
  • Vô thức cá nhân, là nơi đã từng được ý thức nhưng bị quên lãng hay xóa sổ vì nó ít quan trọng hoặc phiền toái. Mọi loại kinh nghiệm những nhân được tích lũy trong vô thức cá nhân, chỉ việc phải có sự nỗ lực về tinh thần là rất có thể lấy ra sử dụng và đặt nó về lại chỗ cũ.
  • Vô thức tập thể, Jung cho rằng nếu như mỗi chúng ta tích lũy toàn bộ những kinh nghiệm trong vô thức cá nhân của tớ thì nhân loại như tập hợp những loại tích lũy kinh nghiệm của loài người. Di sản này được truyền lại cho từng một thế hệ mới. bất kể những kinh nghiệm nào mang tính toàn cầu, những kinh nghiệm được lặp lại, và không thay đổi một cách tương đối sau mỗi thế hệ sẽ trở thành một phần trong nhân cách của chúng ta.

Vô thức tập thể được thể hiện qua những nguyên mẫu, những nguyên mẫu phổ biến, mang tính tượng trưng như Chúa, mẹ, anh hùng,…

Chân dung Carl Jung
Chân dung Carl Jung

3


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết của Alfred Adler

Alfred Adler là một người có những đóng góp lớn trong nội dung lý thuyết của tớ cho ngành Tâm lý học nói chung và những ngành xã hội khác nói riêng. Trong lý thuyết của ông đề cập đến mặc cảm về sự thua kém và thứ tự phát hành của những con trong một gia đình có tác động đến nhân cách của từng đứa trẻ.

Về mặc cảm về sự thua kém, Adler cho rằng mặc cảm về sự thua kém đó là tự thấy bản thân mình thua kém so với người khác. Thua kém này rất có thể xuất phát từ sự thua kém cơ thể, khả năng đối đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Ông cho rằng mọi người đều có trạng thái chung này. Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự mặc cảm về sự thua kém này gồm có:

  • Sự thua kém về cơ thể
  • Sự nuông chiều
  • Sự thờ ơ

Cách mà con người vượt qua được những mặc cảm này sẽ định hình và quy định chiều hướng phát triển nhân cách của con người đó.

Về thứ tự phát hành của những con trong gia đình, Adler cho rằng thứ tự phát hành này có tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của một con người. Ông bàn về 4 vị trí phát hành:

  • Con đầu lòng
  • Con thứ
  • Con út
  • Con một

Mỗi một vị trí không giống nhau rất có thể đưa tới những mặc cảm, những nét tâm lý không giống nhau giữa những con trong cùng một gia đình.

Chân dung Adler
Chân dung Adler

4


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết 8 giai đoạn phát triển của Erikson

Nhắc đến Erikson tức là nhắc đến lý thuyết 8 giai đoạn phát triển về tâm lý xã hội cũng như nhân cách của ông mà Freud gọi là những giai đoạn phát triển tâm lý – tính dục.
Theo ông, chúng ta phát triển nhân cách ra làm sao đó là quy trình mỗi người đối phó với những xích míc gặp phải trong những giai đoạn đó.
8 giai đoạn gồm có:

  • Giai đoạn 1 (0 – 1 tuổi): tin tưởng hay nghi ngờ
  • Giai đoạn 2 (2 – 3 tuổi): tự lập hay xấu hổ và nghi nghờ
  • Giai đoạn 3 (3 – 5 tuổi): chủ động hay tội lỗi
  • Giai đoạn 4 (6 – 11 tuổi): chăm chỉ hay tự ti
  • Giai đoạn 5 (12 – 18 tuổi): khẳng định bản thân hay mơ hồ về chính mình
  • Giai đoạn 6 ( 18 – 35 tuổi): thân thương, gần gũi hay tách biệt, cô lập
  • Giai đoạn 7 (35 – 55 tuổi): sinh sản hay trì trệ
  • Giai đoạn 8 (55 đến chết): cái tôi toàn vẹn hay sự vô vọng

Mỗi một giai đoạn phát triển có những rủi ro hay bước ngoặt đặc trưng của nó đòi hỏi chúng ta cần phải có vài sự thay đổi trong hành vi và cả trong nhân cách của tớ để thích ứng, thích hợp với mỗi giai đoạn.

Chân dung Erikson
Chân dung Erikson

5


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết về nét nhân cách của Gorldon Allport

Gorldon Allport là người thứ nhất đưa ra được một khái niệm rõ ràng, cụ thể về nhân cách. Đồng thời ông còn đưa ra khái niệm về nét nhân cách, động cơ và quy trình phát triển nhân cách.

Ông cho rằng nhân cách không đơn giản chỉ là sự cộng dồn của hệ thống tâm sinh lý mà nó là sự phối kết hợp, tác động qua lại một cách năng động của hệ thống tâm sinh lý được thể hiện, xác định qua hành vi và suy nghĩ tiêu biểu. Nhân cách của 2 người là 2 nhân cách riêng biệt, mỗi người có một nhân cách của tớ, không ai giống của ai.

Allport đưa ra khái niệm nét nhân cách, đó là những khuynh hướng thiên về sự việc cách ta phản ứng lại với những kích thích từ môi trường. Đó là những nét nhất quán, lâu dài về cách phản ứng lại với môi trường. nét nhân cách gồm:

  • Nét nhân cách cốt yếu
  • Nét nhân cách trung tâm
  • Nét nhân cách phụ

những nét nhân cách này tồn tại trong những chúng ta, chúng xác định hoặc là nguyên nhân của hành vi. Chúng không những bắt nguồn từ những việc phản ứng lại một kích thích mà còn thúc đẩy ta tìm kiếm những cách thức thích hợp rồi tác động qua lại với môi trường để tạo ra hành vi. Chúng có liên quan lẫn nhau và đại diện cho những đặc tính không giống nhau.

Chân dung Gordon Allport
Chân dung Gordon Allport

6


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết hành vi về nhân cách của B. F. Skinner

B. F. Skinner là một trong những đại diện tiêu biểu cho trường phái Tâm lý học hành vi. Ông là người đã mở rộng, phát triển hơn lý thuyết hành vi theo một chiều sâu hơn. từ những việc tiến hành thí nghiệm về lồng chuột rất nổi tiếng của tớ, ông đã đưa ra những khái niệm quan trọng như hành vi tạo tác, củng cố, trừng phát và đặc biệt, ông cho rằng nhân cách là tổ hợp những hành vi tạo tác.

Hành vi tạo tác là hành vi được hiểu là loại hành vi được tạo ra bởi chính tác dụng của nó. Và sự hình thành và phát triển nhân cách đó là sự hình thành, duy trì, thay đổi một hệ thống những hành vi tạo tác để tạo thành một nhân cách ổn định, riêng biệt.

Hành vi tạo tác đó cần phải có củng cố. Củng có bao gồ củng cố tích cực và tiêu cực. Và không thể thiếu một mặt trong lý thuyết hành vi của Skinner là khái niệm về sự trừng phạt. Sự trừng phạt hoàn toàn khác về mặt thực chất so với củng cố tiêu cực.

Chân dung Skinner
Chân dung Skinner

7


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết nhân cách về cách tiếp cận học tập xã hội của Bandura

Bandura sinh ra tại Canada, ông đã tiến hành một thực nghiệm rất nổi tiếng đó là thực nghiệm búp bê BoBo. Ông quán sát thực nghiệm của tớ và đã rút ra được một số khái niệm cơ bản trong lý thuyết học tập xã hội của tớ

Bandura cho rằng “hành vi chúng ta được tập nhiễm trải qua việc quan sát hành vi của người khác và hậu quả của hành vi đó. Do đó việc nghiên cứu về sự hình thành và phát triển nhân cách đó là việc nghiên cứ hành vi tập nhiễm. Ông khẳng định “ai kiểm soát được mẫu hình trong xã hội thì người đó sẽ kiểm soát được hành vi của người khác.

quy trình tập nhiễm quan sát phải trải qua những giai đoạn sau:

  • quy trình để ý
  • quy trình ghi nhớ
  • quy trình tái tạo
  • quy trình khích lệ và thúc đẩy

quy trình tập nhiễm quan sát cũng đó là quy trình hình thành và phát triển nhân cách. Cái cốt lõi nhất trong nhân cách chúng ta là một hệ thống những cơ cấu nhận thức đã được tập nhiễm. Trong số đó, bắt chước đóng vai trò quan trọng. trải qua quy trình này, hành vi được hình thành, đó là sản phẩm của quy trình quan sát, bắt chước những mẫu hành vi của người khác. Tổ hợp những mẫu hành vi này tạo thành nhân cách chúng ta. Nhân cách là tổ hợp những mẫu hành vi mà cá nhân có được trải qua việc tập nhiễm quan sát

Chân dung Bandura
Chân dung Bandura

8


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết nhu cầu về nhân cách của Maslow

Theo quan niệm của Maslow, sự phát triển của nhân cách đó là quy trình mỗi người tiến hành những hoạt động không giống nhau để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của tớ. Chính quy trình mỗi người tiến hành những hoạt động không giống nhau của tớ một cách đa dạng và phong phú để thỏa mãn những nhu cầu của tớ quy định chiều hướng phát triển nhân cách của họ. Lý thuyết về sự phát triển nhân cách của ông đó là thang nhu cầu Maslow và cách thức thỏa mãn nhu cầu của mỗi người.

Maslow đưa ra thang nhu cầu gồm 5 loại nhu cầu bẩm sinh điều khiển hành vi con người:

  • Nhu cầu sinh lý: ăn, uống, tình dục,…
  • Nhu cầu an toàn: sự ổn định, trật tự, an toàn
  • Nhu cầu được chấp thuận và yêu thương
  • Nhu cầu tự trọng
  • Nhu cầu tự thể hiện

Những bản năng này là những bản năng tự nhiên, chịu tác động lớn của di truyền. Tuy nhiên những nhu cầu rất có thể bị thay đổi qua rèn luyện, tập nhiễm.

Nhu cầu rất có thể được chia thành :
Nhu cầu bậc thấp và nhu cầu bậc cao hay nhu cầu bị thiếu hụt và nhu cầu phát triển

Chân dung Maslow
Chân dung Maslow

9


Chạy cùng Bình Yên

Lý thuyết tâm lý học hoạt động về nhân cách của Vưgotxki

Vugotxki là người đặt nền móng cho tâm lý học hoạt động, một nền tâm lý học dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ông cho rằng “lịch sử phát triển văn hóa của trẻ đưa chúng ta đến lịch sử phát triển nhân cách” hay nói cách khác, sự phát triển nhân cách và toàn cầu quan của trẻ đó là sự phát triển văn hóa.

Sự phát triển văn hóa ở đây là quy trình hình thành những tính năng tâm lý cấp cao; quy trình làm giảm sút tính chất trực tiếp của những tính năng tâm lý cấp cao. quy trình hình thành này gắn liền với quy trình lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng từ phía bên ngoài. Gọi khái quát đó là những kinh nghiệm lịch sử văn hóa, là văn hóa của loài người và chuyển thành những kinh nghiệm của bản thân.
Khi trở thành kinh nghiệm của bản thân, nó tác động, chi phối hành vi của mỗi người, chi phối cách thức mà chúng ta phản ứng lại với môi trường, với những kích thích không giống nhau. Chính điều đó tạo thành nhân cách riêng biệt của mỗi người.

Đánh giá nhân cách con người gắn liền với việc kiểm tra lịch sử phát triển văn hóa, môi trường mà đứa trẻ đó sinh sống. Thực chất đó đó là quy trình chuyển từ kinh nghiệm văn hóa xã hội của loài người vào thành kinh nghiệm cá nhân của đứa trẻ đó.

Tâm lý học hoạt động về nhân cách
Tâm lý học hoạt động về nhân cách

Từ khóa: Top 9 lý thuyết về nhân cách được áp dụng phổ biến nhất trên toàn cầu, Top 9 lý thuyết về nhân cách được áp dụng phổ biến nhất trên toàn cầu, Top 9 lý thuyết về nhân cách được áp dụng phổ biến nhất trên toàn cầu

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *