Top 7 Kiệt tác hội họa để đời trong giai đoạn Phục Hưng

07-10-2020 7 1014 0 0

Báo lỗi

Thời kỳ Phục Hưng là giai đoạn khắc ghi sự thành công vang dội của lịch sử hội họa ở phương Tây. Sau hàng trăm năm bị quên khuấy, tinh hoa văn hóa từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại một lần nữa lại sống dậy trong thế kỷ 14. Rồi đến thế kỷ 16, hoàn toàn có thể nói toàn bộ châu Âu đã chuyển mình sang một loại hình mỹ thuật hoàn toàn mới. Góp phần làm nên lịch sử vàng son đó phải kể những những kiệt tác của những nhà danh họa tài ba như: Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael, Paolo Veronese… – đại diện cho đỉnh cao của mỹ thuật và đã được nhiều họa sỹ khác học hỏi.

1234567

1


Hoài Thu

Bức “Đám cưới tại Cana” – Paolo Veronese

Đám cưới tại Cana (The Wedding at Cana) là kiệt tác tranh sơn dầu của danh họa Ý – Paolo Veronese, được vẽ năm 1563 cho tu viện Benedectine San Giorgio Maggiore ở Venice. Bức tranh mô tả lại Đám cưới theo Kinh thánh tại Cana, về phép lạ thứ nhất mà chúa Jesus triển khai cho loài người. Cụ thể, chúa Jesus và những môn đệ được mời đến dự một tiệc cưới tại Cana (địa danh này ở đâu thì vẫn tồn tại đấy đang gây tranh cãi). Tuy nhiên, khi tiệc đang ở cao trào thì rượu hết. trước sự việc bồn chồn của gia chủ, chúa Jesus yêu cầu gia nhân đổ đầy nước vào những chum, rồi sau đó biến toàn bộ thành rượu mới.

Bức tranh thể hiện một bữa party có 130 thực khách, với chúa Jesus là trung tâm. Tuy nhiên kỳ lạ thay, 130 con người ấy làm đủ thứ chuyện hoàn toàn có thể xảy ra ở một con người, chỉ trừ việc nói chuyện. Điều này, theo phân tích của một số nhà mỹ thuật, là một sáng tạo của Veronese khi thể hiện truyền thống của tu viện Benedectine – giữ im lặng trong phòng ăn. Phía trên là một bầu trời xanh, sáng với những đám mây trắng, như muốn thắp sáng và làm sâu sắc thêm quan điểm của người xem về thời gian, địa điểm và bản thân những người được mời đến đám cưới. Nhưng sâu xa hơn, Veronese còn muốn nhấn mạnh đến vấn đề khoái lạc trong yến tiệc, về sự xa hoa phi lý của xã hội đương thời, qua đó phản biện công khai minh bạch những gì được cho là nhạy cảm của Venice thời kỳ cuối Phục Hưng.

Người ta nói rằng Veronese đã vẽ chính mình là một trong số 130 khách mời tham gia bữa party cưới này (người mặc áo trắng cầm chiếc đàn Viol ngồi cạnh Titian và Bassano). Bức tranh với kích thước 666 cm x 990cm hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre, Paris.

Đám cưới tại Cana
Đám cưới tại Cana


2


Hoài Thu

Bức “Trường học Athens” – Raphael

Trường học Athens (School of Athens) là một trong bộ tứ tranh tường của Raphael, ra mắt vào khoảng giữa giai đoạn 1509 – 1511. Trường học Athens thể hiện cách hiểu triết học của Raphael như một kiến thức và kỹ năng về hiện thân của Thiên Chúa, với Plato và Aristotle đặt ở trung tâm của khung cảnh, giống như Chúa Giêsu là trung tâm trong bức tranh “Tiệc cưới ở Cana” của Paolo Veronese.

tổng số, bức tranh có 21 triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, như Pythagoras, Heraclitus… Trong số đó Plato và Aristotle được đặt ở trung tâm. Hai người này, một già – một trẻ, một giản dị, chân chất – một hào nhoáng, như đang tranh luận về một vấn đề nào đó, mà đa phần giới chuyên môn cho rằng đó là sự khác lạ về 2 trường phái triết học. Đối với Plato, đó là thuyết Hình thức (theory of Forms) – nơi sự “tồn tại” là cái phi vật chất, là cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu nhiên, còn “không tồn tại” là vật chất. Còn Aristotle, ông coi sự tồn tại vật lý là thực và hiện thực là chân lý.

Đó là 2 trục tư tưởng triết học mà nhiều triết gia khác nương theo. Raphael không đứng về bên nào, mà cách thể hiện của ông Hình như cho thấy ngôi trường của những triết gia không phải để họ ganh đua, mà vì một nhu cầu chung nhằm tìm kiếm tri thức và thực sự của cuộc sống.

Kiệt tác Trường học Athens của Raphael. Trung tâm là Plato (trái) và Aristotle (phải), xung quanh là 19 triết gia nổi tiếng khác của Hy Lạp cổ.
Kiệt tác Trường học Athens của Raphael. Trung tâm là Plato (trái) và Aristotle (phải), xung quanh là 19 triết gia nổi tiếng khác của Hy Lạp cổ.

3


Hoài Thu

Bức “Chúa tạo ra Adam” – Michelangelo

Danh họa Michelangelo đã tạo ra bức tranh để đời của tớ – The creation of Adam. Bức tranh treo tường này nằm trên trần nhà nguyện Sistine ở Vatican City được vẽ từ năm 1511 đến năm 1512. Bức tranh mô tả về một giai thoại trong Sách Sáng thế, khi Chúa thổi hồn và tạo ra Adam – con người thứ nhất trên toàn cầu. Bên cạnh những giá trị về mặt hội họa, ý nghĩa sâu sắc của bức tranh cũng gây ra khá nhiều tranh cãi trong giới nghệ thuật. nổi trội trong số đó là ý tưởng phát minh về sự việc Michelangelo đã dựa trên nền tảng cấu trúc giải phẫu của con người để làm nên bức tranh này.

Năm 1990, Frank Meshberger đã ra mắt một nghiên cứu, cho rằng hình mẫu Chúa trong bức họa của Michelangelo thể hiện một cách chính xác cấu trúc giải phẫu của não người, với những đường nét đầy đủ về bề mặt trong và ngoài não bộ, gồm thân não, thùy trước trán, động mạch thân nền, tuyến yên. Ngoài ra, còn một ý tưởng phát minh khác, đó là miếng vải đỏ xung quanh Chúa là hiện thân của tử cung con người, còn dây xanh đó là dây rốn. Người đưa ra lý thuyết này là một nhóm Chuyên viên Ý và theo họ, điều đó thể hiện việc lý tưởng hóa sự ra mắt của một người đàn ông, dựa trên chính hiện thực trong cuộc sống.

Thật không may, kiệt tác của Michelangelo và một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất trong đỉnh cao của thời kỳ Phục hưng và nghệ thuật tôn giáo bị thiệt hại do khói nến liên tiếp trong nhiều thế kỷ, đã làm cho bức tranh bị tối đi và trở thành một chiếc bóng ảm đạm. Trong những năm 1980, trần nhà nguyện Sistine đã trải qua một đợt phục hồi quy mô lớn đã bật mí màu sắc thật và những chi tiết được ẩn trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, việc phục hồi cũng đã gây ra rất nhiều tranh cãi giữa những nhà sử học nghệ thuật.

Chúa tạo ra Adam
Chúa tạo ra Adam

4


Hoài Thu

Bức “Bữa tối sau cuối” – Leonardo da Vinci

ra mắt trong giai đoạn 1495 – 1498, bức tranh tường The Last Supper của Leonardo da Vinci được xem là một trong những kiệt tác về Thiên chúa trong giai đoạn Phục Hưng. Bức tranh treo tường này nằm trên tường sau phòng ăn tu viện Dominica Santa Maria delle Grazie ở Milan, Ý, được vẽ vào thời gian 1495 – 1498. Nó khác lạ với những bức bích họa khác cùng thời đại vì ông Da Vinci đã tạo ra nó bằng phương pháp sử dụng những sắc tố thực nghiệm trực tiếp trên tường thạch cao khô. Nhưng trong cả trước khi nó được hoàn thành, sơn vẽ đã bị bong tróc ra khỏi bức tường. ý tưởng phát minh của bức họa dựa trên bối cảnh bữa ăn cuối của chúa Jesus cùng 12 môn đệ, thời điểm Chúa tuyên bố rằng 1 trong số những môn đệ sẽ phản bội người.

Bức tranh thể hiện phản ứng rất sắc nét của 12 môn đệ. Bartholomew, James bé (James Minor), Andrew, cả 3 rất ngạc nhiên. Judas ngỡ ngàng, Peter nắm chặt dao phẫn nộ, còn John – môn đồ trẻ nhất – ngất đi. Đó là nhóm bên trái. Bên phải là Thomas trông có vẻ buồn bã, James lớn (James Major) choáng váng, Philip thể hiện khuôn mặt muốn một lời giải thích. Còn Jude Thaddeus và Matthew đưa mắt nhìn Simon với vẻ mặt… nghìn dấu hỏi.

Nhìn chung, nội dung bức tranh hướng trực tiếp đến một giai thoại trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, những Chuyên viên mỹ thuật đánh giá đây là một công trình cực kỳ phức tạp, thể hiện hệ thống toán học, tâm lý học rất rắc rối, đưa ra quan điểm đa chiều, và xứng đáng là một tác phẩm tiên phong, vượt trội về tính thẩm mỹ trong nghệ thuật Phục Hưng.

Bữa tối cuối cùng
Bữa tối sau cuối

5


Hoài Thu

Bức “Pesaro Madonna” – Titian

Bức tranh “Pesaro Madonna” được vẽ từ năm 1519 đến năm 1526, bức tranh mô tả Đức Trinh Nữ và Chúa trên đỉnh bục giảng được nâng lên. Những ủy viên của bức tranh, Jacobo Pesaro được thể hiện đang quỳ trước Đức Trinh Nữ và dâng lên Đức Trinh Nữ trải qua Thánh Peter. Titian cho thấy người bảo trợ của tớ trong một tư thế sùng kính, quỳ trước mặt Đức Trinh Nữ và được Thánh Phêrô tặng cho bà. Hiển thị nổi trội trên bức là chìa khóa của Thánh Phêrô, mặt phẳng đường chéo của nó, hướng về phía Virgin, tương đương với của Jacopo. Vị trí của Virgin ở trên cùng của những bước ám chỉ đến vai trò thiên thể của cô như Madonna della Scala (Madonna của Cầu thang) và là Cầu thang lên thiên đường. Titian thực sự đã sử dụng vợ của tớ, người đã chết trong lúc sinh con ngay sau đó, như là quy mô cho Đức Trinh Nữ Maria trong công việc này.

những biểu ngữ red color lớn ở phía xa bên trái nổi trội hiển thị cánh tay giáo hoàng ở trung tâm và những người của Jacopo dưới đây. Cũng được hiển thị là một nhánh nguyệt quế, một hình tượng của thắng lợi. Một hiệp sĩ không xác định có hai tù nhân trong tow, turked Turk và Moor, có lẽ là một tham chiếu đến thắng lợi của Jacopo trên Turks năm 1502. Ở bên phải, Thánh Phanxicô Assisi links năm thành viên gia đình Pesaro quỳ xuống với Chúa Kitô, gợi ý rằng trải qua con đường riêng của tớ để nhận diện với sự cứu rỗi của Đấng Christ hoàn toàn có thể đạt được. Ngay phía sau Saint Francis là Saint Anthony của Padua – cả hai, giống như Saint Bernardino, là người Phanxicô, cũng như nhà thờ Santa Maria Gloriosa dei Frari.

những thành viên trong gia đình của nhà tài trợ là bất động. toàn bộ những nhân vật khác đều hoạt động mạnh mẽ và chiếm những mặt phẳng chéo. những bước, vượt qua bởi những cột lớn bị cắt ở đầu, được đẩy theo đường chéo quay về vào không gian. Thiên thần trẻ sơ sinh xuất hiện trên đám mây ở trên. Một người nhìn thấy ở phía sau xem Cross. Mặt sau của thiên thần này được đính kèm với Chúa Kitô trẻ sơ sinh, người đã nghịch ngợm trên đùi của Mary và nhìn xuống Saint Francis, người đã quay lại nhìn anh. những loại vải đặc trưng phong phú và kết cấu, đặc biệt là cờ và trang phục. Sự để ý đến kết cấu vật liệu này được tăng cường hơn nữa bởi sự thay đổi của đèn sáng và những điểm nhấn tối trên bầu trời. Ánh sáng của Venice, lấp lánh trong dòng sông của nó, Hình như chiếu sáng bức tranh này.

San Zaccaria Altarpiece - Giovanni Bellini
San Zaccaria Altarpiece – Giovanni Bellini

6


Hoài Thu

Bức “San Zaccaria Altarpiece” – Giovanni Bellini

Bức tranh sơn dầu trên vật liệu vải này được Giovanni Bellini vẽ vào năm 1505. Đây là một trong những hình mẫu tốt nhất của cái gọi là conversazione sacra hoặc “chuyện thiêng liêng” được những nghệ sĩ thời Phục hưng Ý phát triển và thay thế những hình thức polyptych cứng nhắc của giai đoạn trước đó.

Đức Trinh Nữ Maria với Chúa Giêsu bé trong trung tâm được mô tả cùng với bốn vị thánh Kitô giáo – Thánh Peter và Thánh Catherine của Alexandria ở bên trái, và Thánh Gerome và Thánh Lucy ở bên phải – và một thiên thần chơi violin tại chân bàn thờ. Bức tranh được đặt trong nhà thờ San Zaccaria ở Venice, Ý.

Bức tranh giúp con người mãi thấy được vẻ đẹp và sự vĩ đại của Thần, để luôn tin ‘thiện ác hữu báo’, kẻ làm ác sẽ bị ác báo, người tốt sẽ có phúc báo, người tu sẽ lên thiên đường.

Pesaro Madonna - Titian.
Pesaro Madonna – Titian.

7


Hoài Thu

Bức “Ngày phán xét sau cuối” – Hieronymus Bosch

Bức tranh bộ ba này được họa sỹ Hà Lan vẽ vào khoảng năm 1505 và 1510, gồm có ba bức:

  • Bức bên trái mô tả Vườn Địa Đàng khi Adam và Eva bị cám dỗ bởi Con Rắn trên cây.
  • Bức ở giữa mô tả phán xét sau cuối với Chúa Giêsu trên ngai vàng, là thẩm phán của toàn cầu.
  • Bức bên phải mô tả địa ngục, bức này có bối cảnh rất giống với bức trung tâm, nhưng thay cho là Chúa Giêsu, nó lại diễn tả quỷ Sa-tan đã nhận được được linh hồn của những người bị đày xuống địa ngục.

Đề tài ‘tội lỗi và trừng phạt’ là trọng tâm trong toàn bộ những tác phẩm của Bosch. Bức tranh trung tâm đại diện cho tội lỗi trải qua ẩn dụ về cỗ xe ngựa lớn chở cỏ khô, thứ mà toàn cầu tham lam đang giành giật lấy. Cùng lúc ấy, ma quỷ đang kéo cỗ xe sang bức tranh phía bên tay phải – một trong những mô tả thứ nhất của Bosch về địa ngục.

Chúa xuất hiện ở phần trên cùng của bức tranh “Vườn địa đàng”, với một khối cầu trong tay hình tượng cho vũ trụ. Ba cảnh phía dưới thể hiện “Sự sáng tạo ra Eve,” “Ăn trái cấm” và “Adam và Eve bị trục xuất khỏi Vườn địa đàng” theo thứ tự thời gian. Những tác phẩm thời tiền Phục Hưng sử dụng một kỹ thuật điển hình là tả cảnh theo thứ tự thời gian để chúng hoàn toàn có thể được ‘đọc’ như một mẩu truyện.

Tại bức tranh trung tâm, những người đàn ông và đàn bà đang xúm quanh cỗ xe chất đầy cỏ khô, tranh giành nhau để lấy một ít cỏ khô với toàn bộ khả năng và dụng cụ của họ. Họ đi xa tới mức giết hại cả người khác chỉ để lấy một nhúm cỏ. Một nhóm thầy tu và bà xơ ở phía dưới cùng góc bên phải đã lấy được một bao cỏ. Vài người trong số họ đang phân chia và tích trữ cỏ, trong lúc những người khác đã thưởng thức cỏ. Thậm chí cả nhà vua, giám mục và nhà quý tộc cũng đang lo lắng đuổi theo ở phía bên phải cỗ xe. Không ai nhận thấy rằng ma quỷ đang kéo cỗ xe xuống địa ngục (sang bức tranh bên tay phải). Tranh của Bosch đã minh họa một cách cực kì xuất sắc câu ngạn ngữ Flemish “toàn cầu là một đống cỏ khô, và người ta cố gắng nhổ lấy càng nhiều càng tốt”.

Ngày phán xét cuối cùng, Hieronymus Bosch
Ngày phán xét sau cuối, Hieronymus Bosch

Từ khóa: Top 7 Kiệt tác hội họa để đời trong giai đoạn Phục Hưng, Top 7 Kiệt tác hội họa để đời trong giai đoạn Phục Hưng, Top 7 Kiệt tác hội họa để đời trong giai đoạn Phục Hưng

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *